13,589

Lời mở đầu

Quỹ Đạo Phật Ngày Nay (tên tiếng Anh: Buddhism Today Foundation, viết tắt là BTF) chính thức ra mắt vào ngày 06/05/2013 tại chùa Giác Ngộ.

Với tâm nguyện mang tình yêu thương đến với cuộc đời, sự có mặt của Quỹ Đạo Phật Ngày Nay đem lại một mô hình từ thiện mới, khác với cách làm từ thiện theo phương thức cuốn chiếu như trước đây. Mô hình này giúp cho các hoạt động từ thiện mang tính quy mô, duy trì đều đặn, bền vững và lâu dài hơn....

Người sáng lập

ĐÔI NÉT VỀ THẦY THÍCH NHẬT TỪ

Thượng tọa Thích Nhật Từ là một Tam tạng pháp sư thời nay, nhà cải cách Phật giáo hiện đại, người chủ trương nhập thế, nhà diễn thuyết, nhà hoằng pháp, dịch giả kinh điển, tác gia, nhà thơ, nhà tư vấn, người trị bệnh ma nhập (hay còn gọi là bệnh tâm thần đa nhân cách) và nhà hoạt động xã hội năng động.
Ghi nhận các đóng góp đặc của Sư, vào tháng 12 năm 2010, Sư Thích Nhật Từ chính thức được GHPGVN tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa sớm hơn 3 năm so với quy định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (45 tuổi đời, 25 tuổi hạ).

Người sáng lập
ĐÔI NÉT VỀ THẦY THÍCH NHẬT TỪ

Thượng tọa Thích Nhật Từ là một Tam tạng pháp sư thời nay, nhà cải cách Phật giáo hiện đại, người chủ trương nhập thế, nhà diễn thuyết, nhà hoằng pháp, dịch giả kinh điển, tác gia, nhà thơ, nhà tư vấn, người trị bệnh ma nhập (hay còn gọi là bệnh tâm thần đa nhân cách) và nhà hoạt động xã hội năng động.
Ghi nhận các đóng góp đặc của Sư, vào tháng 12 năm 2010, Sư Thích Nhật Từ chính thức được GHPGVN tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa sớm hơn 3 năm so với quy định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (45 tuổi đời, 25 tuổi hạ).

Tiểu sử

Thượng tọa Thích Nhật Từ là một Tam tạng pháp sư thời nay, nhà cải cách Phật giáo hiện đại, người chủ trương nhập thế, nhà diễn thuyết, nhà hoằng pháp, dịch giả kinh điển, tác gia, nhà thơ, nhà tư vấn, người trị bệnh ma nhập (hay còn gọi là bệnh tâm thần đa nhân cách) và nhà hoạt động xã hội năng động.

Ghi nhận các đóng góp đặc của Sư, vào tháng 12 năm 2010, Sư Thích Nhật Từ chính thức được GHPGVN tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa sớm hơn 3 năm so với quy định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (45 tuổi đời, 25 tuổi hạ).

Sư sinh năm 1969 tại Sài Gòn, xuất gia với Hoà thượng Thích Thiện Huệ tại chùa Giác Ngộ năm 1984 và thọ giới tỳ kheo năm 1988. Thượng tọa trụ trì tại chùa Giác Ngộ từ năm 1992. Sư du học tại Ấn Độ năm 1994 và tốt nghiệp tiến sĩ triết học năm 2001. Sư là người sáng lập "Hội Ấn Tống Đạo Phật Ngày Nay" và "Hội Từ Thiện Đạo Phật Ngày Nay".[1]. Đồng thời, Sư cũng là tác giả và dịch giả của hơn 60 cuốn sách viết về Phật giáo, soạn dịch nhiều nghi thức tụng niệm thông dụng cho Phật tử tại gia, biên tập và xuất bản hơn 200 tác phẩm Phật học, Chủ nhiệm Đại tạng Kinh Việt Nam (Âm thanh). Hiện nay, Sư là trụ trì tại chùa Giác Ngộ (TP.HCM và Vĩnh Long), chùa Vô Ưu (Thủ Đức), Chùa Tượng Sơn (Hà Tĩnh.

Pháp môn và Tôn chỉ

Trong hàng trăm bài pháp thoại, Sư Thích Nhật Từ kêu gọi Tăng Ni và Phật tử hay quay trở về với đức Phật gốc, thực tập và truyền bá “Tứ thánh đế” (thừa nhận khổ đau, truy tìm nhân nhân, trải nghiệm niết-bàn và thực tập bát chánh đạo), thay vì phải tiếp tục bị ảnh hưởng bởi phương pháp Phật học của Trung Quốc theo phong cách tổ sư. Tứ diệu đế là pháp môn thù diệu, một đóng góp vô tiền khoáng hậu của đức Phật cho lịch sử tư tưởng tôn giáo thế giới.

Theo Sư Thích Nhật Từ, thực tế không có 84.000 pháp môn như Trung Quốc đã khẳng định. Không có pháp môn thứ hai, ngoài tứ diệu đế. Các Pháp môn của Trung Quốc là một nhấn mạnh về một vài bài kinh tông chỉ, đang khi bỏ qua các bài kinh khác, các phương diện tu tập khác, nên không đầy đủ, do vậy khó trị liệu nỗi khổ niềm đau dứt điểm. Theo Sư, 10 pháp môn của Trung Quốc, 14 pháp môn của Nhật Bản, 4 trường phái của Phật giáo Tây Tạng chẳng qua chỉ là phần ứng dụng của chánh niệm và chánh định trong Bát chánh đạo (6 yếu tố còn lại là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn), do vậy không có pháp môn nào của các tổ có thể toàn diện và hay hơn tứ diệu đế.

Ngoài ra, Sư Thích Nhật Từ còn kêu gọi Tăng Ni Phật tử Việt Nam quay trở về, bảo tồn và phát huy nền văn hóa Phật giáo Việt Nam cho cộng đồng Việt Nam; không lệ thuộc vào phương pháp Phật học, tu tập, kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật của Trung Quốc, vốn đã bám rễ vào VN 2000 qua. Sư kêu gọi thuần Việt hóa nghi thức tụng niệm, câu đối, bảng hiệu chùa. Tại Việt Nam, theo Sư, tất cả nên dùng tiếng Việt để giới thiệu nền minh triết của đức Phật cho con người Việt Nam. Theo Sư, nhập cảng nguyên xi nền Phật học của Trung Quốc đã giết chết tinh thần sáng tạo và đóng góp của Phật giáo Việt Nam.

Giáo dục

Về Phật học, dù sinh ra trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, các trường Phật học bị đóng cửa, Sư may mắn cầu học với các vị cao tăng Phật giáo lỗi lạc trong thế kỷ 20 bao gồm Đại lão HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Huệ Hưng, HT. Thích Huệ Đăng, HT. Thích Từ Thông, HT. Thích Trí Quảng, HT. Thích Minh Cảnh, HT. Thích Nguyên Ngôn, HT. Thích Thiện Nhơn, HT. Thích Thiện Tâm, HT. Thích Thiện Trí, HT. Thích Giác Toàn và thiền sư Duy Lực v.v.... Nhờ đó, từ lúc còn làm Sa-di, Sư đã lão thông Kinh, Luật, Luận của Phật giáo Nguyên Thủy và Đại thừa.

Sư tốt nghiệp đại cương cử nhân Anh văn (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 1994. Cao học triết học (Đại học Delhi, 1997) và Tiến sĩ triết học (Đại học Allahabad, 2001).[2]. Từ năm 2006, Sư là Trưởng Khoa Triết học Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM.[3] Phó viện trưởng, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM]].[4] Thành viên Ban biên tập Đại Tạng kinh Việt Nam, Giám đốc hội Đạo Phật Ngày Nay).[5][6][7].

Thượng tọa Thích Nhật Từ đã từng giảng dạy hoằng pháp học và triết học và Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, lớp Cao cấp giảng sư, các trường Phật học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Cần Thơ. Sư giảng trên 2700 VCD pháp thoại tại chùa Giác Ngộ, chùa Hoằng Pháp, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang, chùa Phổ Quang, chùa Đức Quang, chùa Giác Nguyên, các chùa trong nước và nước ngoài. Sư tổ chức nhiều triển lãm nghệ thuật Phật giáo và các chương trình văn nghệ Phật giáo tại một số chùa và HTV trong vòng ba năm qua.

Sư đã giảng dạy các lớp cao đẳng Phật học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu, Cần Thơ, lớp Cao cấp Giảng sư và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sư là tu sĩ Phật giáo Việt Nam được mời thuyết giảng nhiều nhất trong nước cũng như tại Úc và Hoa Kỳ.

Sư đã tham dự và thuyết trình các hội thảo trong nước và nước ngoài như: Phật giáo và du lịch tâm linh (New Delhi), Hội thảo tăng đoàn Phật giáo quốc tế Phật Quang Sơn (Cao Hùng), Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo lần thứ IV (Bangkok), Hội thảo giáo dục Phật giáo tại Pháp Cổ Sơn (Đài Bắc), Diễn đàn Phật giáo thế giới lần thứ I (Hàng Châu), Hội thảo của Hội Liên hữu Phật tử thế giới lần 23 (Cao Hùng), Hội thảo Phật giáo thế giới lần thứ nhất (Kandy), Hội thảo PG quốc tế về Phật giáo trong thời đại mới (Thành phố Hồ Chí Minh), Hội thảo Phật giáo nhập thế (Thành phố Hồ Chí Minh), Hội thảo quốc tế về Châu Á đa dân tộc và đa ngôn ngữ (TP.HCM), Hội thảo Phật giáo thế giới tại trường Mahachulalongkorn năm 2006 và 2007.[8] và nhiều hội thảo khác trong nước và nước ngoài.

Tiến sĩ danh dự - Honorary doctorate

Vào ngày 30-10-2010, trường đại học Mahamakut (Mahamakut Buddhist University), Thái Lan đã trao tặng bằng Tiến sĩ danh dự (Doctorate Honoris Causa) về Tôn giáo học Religious Studies) cho Sư Thích Nhật Từ, nhằm ghi nhận đóng góp to lớn của ông cho giáo dục Phật giáo và lãnh đạo cộng đồng Phật giáo thế giới.[9]. Được biết, cho đến thời điểm hiện nay, Sư Thích Nhật Từ là người trẻ nhất được trao tiến sĩ danh dự trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Đại tạng Kinh và sách nói Phật giáo

Để truyền bá Phật pháp cho quần chúng trong thời đại kỹ thuật số một cách có hiệu quả, vào ngày 22-2-2000, đang khi là nghiên cứu sinh tiến sĩ triết học tại Ấn Độ, Sư đã thiết kế và chủ biên trang nhà Đạo Phật Ngày Nay (www.daophatngaynay.com), trang nhà Phật giáo sớm nhất ở trong nước. Trang nhà này nhanh chóng trở thành nơi chia sẻ và truyền thông về Phật học của cộng đồng người Việt trên toàn cầu.

Vào năm 2003, Sư làm chủ nhiệm và sản xuất chương trình âm thanh hóa Đại Tạng kinh Việt Nam MP3 và Sách nói Phật giáo. Đây là ấn bản âm thanh đầu tiên về Đại tạng Kinh trên toàn cầu, mở ra phương trời học Phật mới cho mọi thành phần yêu thích tiếng Việt và triết lý Phật giáo.

Để giúp giới trẻ và giới trí thức tìm hiểu đạo Phật một cách thuyết phục, Sư còn là tổng biên tập và xuất bản Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay (trên 200 quyển) và trên 100 CD, VCD, DVD tân nhạc, cổ nhạc và thơ Phật giáo. Sư là người khởi xướng làm lịch và thiệp chú tiểu đầu tiên ở Việt Nam. Sư cũng là tác giả, soạn giả, dịch giả của nhiều tác phẩm Phật học và gần hàng trăm bài pháp thoại đủ mọi chuyên đề[10].

Hoạt động hoằng pháp

Sư Thích Nhật Từ là một tăng sĩ thuyết giảng trên 2700 đề tài pháp thoại, về nhiều chủ đề đạo và đời khác nhau tại trang www.tusachphathoc.com . Sư đã đi thuyết pháp nhiều nơi và được xem là một tu sĩ đầy tương lai của Phật giáo trong nước.[11].

Các chủ đề thuyết giảng của Sư rất thực tế, gắn liền với cuộc sống. Từ các vấn đề tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình, xã hội, cho đến các vấn đề đạo đức, tâm linh, ngoại cảm, cõi âm, ông đều thuyết giảng.

Vào các tháng 7, nhằm mùa An Cư, Sư thường giảng trung bình 50-60 đề tài cho Tăng Ni và Phật tử. Hàng tháng, ông giảng trên 14 bài pháp thoại mới. Có lẽ, về đề tài, nội dung và số lượng, không có giảng sư nào làm được công việc như Sư.

Hoạt động văn hóa Phật giáo

Để góp phần phát triển văn nghệ Phật giáo, Sư có công thành lập Câu lạc bộ Văn nghệ Phật giáo năm 2002-2007, tập hợp giới văn nghệ sĩ tên tuổi trong nước, hướng về Phật pháp, sáng tác và biểu diễn các ca khúc, kịch bản Phật giáo.

Sư là nhà biên tập và xuất bản hơn 100 CD, VCD, DVD về tân nhạc, cổ nhạc và tiếng thơ Phật giáo từ năm 2002 đến nay. Ngoài ra còn có nhiều đĩa nhạc lễ và nhạc kinh Phật giáo được Sư biên tập và xuất bản, góp phần làm phong phú dòng nhạc nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Từ vai trò Thư ký Ban văn hóa Thành hội Phật giáo TP.HCM (2002) đến Trưởng Ban Văn hóa GHPGVN TP.HCM, hàng năm Sư nỗ lực thực hiện các chương trình văn nghệ Phật giáo chuyên nghiệp và đặc sắc tại Trung tâm Ca nhạc Lan Anh và nhà hát Hòa Bình, v.v... Ngoài ra, còn có nhiều cuộc triễn văn hóa, mỹ thuật Phật giáo bao gồm tranh ảnh, thư pháp, hội họa, cổ vật Phật giáo v.v...\

Sư đã viết cuốn sách Phật Tích Ấn Độ và Nepal. Chính cuốn sách này là nguồn cảm hứng khiến đoàn làm phim VTCV1, Truyền Hình Cáp và Đài Truyền Hình Việt Nam đã lên đường cùng Sư sang Ấn Độ làm phim ký sự.[12]. Sư chính là người tham gia dẫn chương trình và cũng là nhân vật chính cho bộ phim ký sự này.[13]

Hoạt động từ thiện

Sư là nhà công tác xã hội, người làm từ thiện, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần vơi đi nỗi khổ niềm đau, giúp người thiên tai, hỗ trợ người già và tàn tật, trẻ em mồ côi, mổ mắt từ thiện và các hoạt động khác...

Sư sáng lập Quỹ từ thiện Đạo Phật Ngày Nay, giúp mổ cườm hàng trăm ca mỗi năm, tặng quà cho các trung tâm bảo trợ xã hội, viện dưỡng lão, trung tâm nuôi dạy thanh thiếu niên, bệnh nhân ung bướu và các nạn nhân thiên tai.

Năm 2008, 2009, Sư thuyết giảng và hướng dẫn thiền cho hơn 2.000 phạm nhân tại trại giam K.20 thuộc Bộ công an tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, Bến Tre.[14][15].[16]. Năm 2010, Sư thuyết giảng cho hơn 5500 phạm nhân tại trại giam Sơn Phú 4, thành phố Thái Nguyên, giúp họ vượt qua mặc cảm tội lỗi.

Sinh hoạt tuổi trẻ Phật giáo

Sư Thích Nhật Từ là người có công cố vấn thành lập Câu lạc bộ Hoằng Pháp Trẻ từ năm 2006. Sư đẩy mạnh hoạt động giới trẻ Phật giáo lên thành một cao trào vào năm 2010, theo đó, có khoảng 4000 thanh thiếu niên Phật tử đến từ 24 tỉnh thành về tham dự Hội trại hè Phật giáo tại Đại Nam, Bình Dương.

Ngày nay, mô hình hoạt động giới trẻ của ông đã được hầu hết các Ban Trị sự GHPGVN tại các tỉnh thành sử dụng, để phát triển giới trẻ Phật giáo trong việc tổ chức khóa tu giới trẻ, tư vấn mùa thi v.v...

Các vai trò đảm trách


• 1984-1991: Học Phật với các cao tăng: HT. Thích Huệ Hưng, HT. Thích Huệ Đăng, HT. Thích Từ Thông, HT. Thích Minh Cảnh, HT. Thích Nguyên Ngôn, HT. Thích Thiện Nhơn, HT. Thích Thiện Tâm, HT. Thích Thiện Trí, HT. Thích Giác Toàn và thiền sư Duy Lực v.v...
• 1992-1994: Học Phật với các cao tăng: Đại lão HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Trí Quảng, HT. Thích Phước Sơn v.v...
• 1991-1994: Thành viên biên tập, Từ điển Phật học Huệ Quang
• 1992-1994: Trụ trì Chùa Giác Ngộ
• 1994-2001: Du học tại Ấn Độ
• 2002-2007:

  • Phó thư ký Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
  • Phó Ban Phật giáo quốc tế trung ương GHPGVN
  • Ủy viên Ban Trị sự, kiêm Thư ký Ban văn hóa Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh


• 2002-2006: Chủ nhiệm Câu lạc bộ văn nghệ Phật giáo
• 2005-2006: Thành viên Ủy ban tổ chức quốc tế, đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (Bangkok)
• 2006-2007: Phó chủ nhiệm Ban thư ký quốc tế, đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (Bangkok)
• 2007-2008: Chủ nhiệm Ban thư ký quốc tế, đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (Vietnam)
• 2009-2013: Thành viên Biên soạn Bộ Kinh Điển Phật giáo chung (biên soạn phần Đại thừa) của Ủy ban tổ chức quốc tế của đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (ICUNDV)
• 2007-2012:

  • Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM,
  • Phó Ban Phật giáo quốc tế GHPGVN,
  • Ủy viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM
  • Phó Ban – Chánh thư ký Ban Hoằng pháp, Thành hội Phật giáo TP.HCM
  • Thường trực Ban tư vấn Trung tâm kỷ lục Việt Nam


• 2012-2017:

  • Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, [17]
  • Phó Viện trưởng - Tổng thư ký Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, [18]
  • Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM[19]
  • Phó Ban Hoằng Pháp Trung Ương GHPGVN, [20]
  • Phó Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương GHPGVN, [21]
  • Phó Ban Phật giáo quốc tế Trung ương GHPGVN[22]
  • Trưởng Ban Văn hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, [23]
  • Phó chủ tịch Liên minh thế giới về giao lưu văn hóa Phật giáo (International Alliance for Buddhist Cultural Exchange),
  • Thành viên sáng lập Liên minh Phật giáo toàn cầu (International Buddhist Confederation, viết tắt là IBC)
  • Thường trực Ban tư vấn Trung tâm kỷ lục Việt Nam,
  • Phó tổng thư ký Hội đồng Đại Tạng Kinh Việt Nam, [24]
  • Trưởng Khoa Triết học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM[25]
  • Chủ biên Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay[26]
  • Thư ký và Trị sự Tạp chí Thế giới Phật giáo
  • Trụ trì Chùa Giác Ngộ (TP.HCM và Vĩnh Long), Chùa Vô Ưu (Thủ Đức), Chùa Tượng Sơn (Sơn Giang - Hương Sơn - Hà Tĩnh),

Giải thưởng và bằng khen Tác phẩm đã xuất bản [27][28]

  • 1987: Thủ khoa lớp 12, Trường trung học Trần Khai Nguyên
  • 1991: Hạng ba toàn trường (Tăng và Ni) Trường Trung cấp Phật học TP.HCM
  • 1992: Thủ khoa tuyển sinh Cử nhân Phật học khóa III, trường Cao cấp Phật học Việt Nam (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM)
  • 1993-1994: Thủ khoa học kỳ 1, học kỳ 2, học kỳ 3 Cử nhân Phật học khóa III, trường Cao cấp Phật học Việt Nam
  • 1996-1997: Thủ khoa Thạc sĩ Khoa Triết học Trường Hindu College thuộc Delhi University, Ấn Độ
  • 2007: Bằng Công đức của Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho nhiệm kỳ 2002-2007
  • 2008: Bằng khen của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
  • 2008: Bằng Công đức của Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • 2008: Kỷ lục “Người có công đóng góp cho Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008”
  • 2009: Kỷ lục: “Biên tập Trang web Đạo Phật Ngày Nay có nhiều người truy cập”
  • 2009, 2010, 2011, 2012: Bằng Công đức của Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM cho hoạt động Hoằng pháp
  • 2012: Bằng Công đức của Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho nhiệm kỳ 2007-2012
  • 2012: Bằng Tuyên dương Công đức của Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM cho nhiệm kỳ 2007-2012
  • 2013: Bằng Công đức của Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM
  • 2013: Kỷ lục: “Người biên tập và xuất bản nhiều sách Phật học nhất”

I. Sách ứng dụng Phật học

  • 1. Thích Nhật Từ., Thế Giới Cực Lạc. Sài gòn: NXB Văn Hóa Sài gòn, 2010, tr. 142.
  • 2. Thích Nhật Từ., Chết Đi về Đâu. Sài gòn: NXB Văn Hóa Sài gòn, 2010, tr. 126.
  • 3. Thích Nhật Từ., Cẩm Nang Viết Khảo Luận Luận Văn & Luận Án. Sài gòn: NXB TP. Hồ Chí Minh. 2003, tr. 200.
  • 4. Thích Nhật Từ dịch và chú giải., Tìm Hiểu Kinh Bốn Mươi Hai Chương. Sài gòn: NXB Thời Đại, 2010, tr. 499.
  • 5. Thích Nhật Từ., Phương Trời Thong Dong. Sài gòn: NXB Phương Đông. 2010, tr. 87.
  • 6. Thích Nhật Từ., Chuyển Hoá Cảm Xúc. Sài gòn: NXB Thời Đại. 2010, tr. 112.
  • 7. Thích Nhật Từ., Hiểu Thương và Tuỳ Hỷ. Sài gòn: NXB Thời Đại, 2010, tr. 174.
  • 8. Thích Nhật Từ., Khủng Hoảng Tài Chánh Toàn Cầu qua Cái Nhìn Phật Giáo. Sài gòn: NXB Hải Phòng, 2009, tr. 152.
  • 9. Thích Nhật Từ., Không Có Kẻ Thù. Sài Gòn: NXB Thời Đại, 2010, tr. 121.
  • 10. Thích Nhật Từ., Chuyển Hóa Sân Hận. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. 180.
  • 11. Thích Nhật Từ., Đối Diện Cái Chết. Sài gòn: NXB Thời Đại, 2010, tr. 169.
  • 12. Thích Nhật Từ., Quay Đầu Là Bờ. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. 202.
  • 13. Thích Nhật Từ., Hạnh Phúc Giữa Đời Thường. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. vi + 194.
  • 14. Thích Nhật Từ., Con Đường An Vui. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. 168.
  • 15. Thích Nhật Từ., Hạnh Phúc trong Tầm Tay. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. 149.
  • 16. Thích Nhật Từ., Đôi Dép Triết Lý về Hạnh Phúc Hôn Nhân. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2010, tr. 178.
  • 17. Thích Nhật Từ., Phật Giáo và Thời Đại. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 171.
  • 18. Thích Nhật Từ., Hạnh Phúc Tuổi Già. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 130.
  • 19. Thích Nhật Từ., Sống Vui Sống Khỏe. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2012, tr. 124.
  • 20. Thích Nhật Từ., 10 Điều Tâm Niệm. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 128.
  • 21. Thích Nhật Từ., 14 Điều Phật Dạy. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 117.
  • 22. Thích Nhật Từ., Con Đường Chuyển Hóa. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 208.
  • 23. Thích Nhật Từ., Tám Điều Giác Ngộ. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 194.
  • 24. Thích Nhật Từ., Tinh Hoa Trí Tuệ. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 266.
  • 25. Thích Nhật Từ., Để Gió Cuốn Đi. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 94.
  • 26. Thích Nhật Từ., Đừng Vì Tiền Phụ Nghĩa, Quên Tình. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 106.
  • 27. Thích Nhật Từ., Chùa Ấn Quang: Danh Thắng và Di Tích Lịch Sử. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2012, tr. 60.
  • 28. Thích Nhật Từ., 100 Điều Đạo Đức tại Gia và Nghi Thức Quy Y Tam Bảo. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2012, tr. 84.
  • 29. Thích Nhật Từ., Gia Đình Xã Hội và Tâm Linh. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2012, tr. 172.
  • 30. 423 lời vàng của Phật (2013)
  • 31. Cẩm nang thực tập chánh niệm và khuyến tu (2013)
  • 32. Chánh niệm trong từng cử chỉ (Tỳ ni nhật dụng) (2013)
  • 33. Chữ hiếu trong đạo Phật (2013)
  • 34. Chuyển hóa sáu nghiệp giác quan (2013)
  • 35. Đối thoại triết học giữa nhà vua và nhà sư (2013)
  • 36. Mê tín chánh tín (2013)
  • 37. Nghệ thuật ứng xử (Ứng dụng Kinh Hiền Nhân) (2013)
  • 39. Bồ tát Quảng Đức: Cuộc đời và lửa từ bi (2013)
  • 40. Từ điển Phật học Huệ Quang (cộng tác, 1991-1994)
  • 41.Tư tưởng Phật giáo (chủ biên, 1991)
  • 42.Phê bình “Ký sự hành hương đất Phật của Phan Thiết (2000)
  • 43.Ngược dòng (thơ, 2002)
  • 44.Hành trang (thơ, 2002)
  • 45.Từng bước thảnh thơi (thơ, 2003)
  • 46.Một cõi đi về (thơ, 2003)

II. Nghi thức và Kinh tụng (Phiên dịch và biên tập)

  • 1. Thích Nhật Từ biên soạn., Kinh Tụng Hằng Ngày. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2005, tr. xxxii + 992.
  • 2. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Tụng Niệm. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. xx + 390.
  • 3. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh Địa Tạng. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2008, tr. 154.
  • 4. Thích Nhật Từ biên soạn., Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2009, tr. 62.
  • 5. Thích Nhật Từ biên tập., Nghi Thức Thập Chú. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2010, tr. 30.
  • 6. Thích Nhật Từ biên tập., Kinh Vu Lan Báo Hiếu, Thích Tuệ Đăng dịch. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2006, tr. xvii + 62.
  • 7. Thích Nhật Từ biên soạn., Nghi Thức Phật Đản. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2006, tr. 48.
  • 8. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Sám Hối. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2005, tr. 52.
  • 9. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh Phổ Môn. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2005, tr. 32.
  • 10. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh Dược Sư. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2005, tr. 36.
  • 11. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh A Di Đà. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2005, tr. 34.
  • 12. Thích Nhật Từ biên tập., Kinh Từ Tâm và Phước Đức. Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2009, tr. 42.
  • 13. Thích Nhật Từ biên soạn., Nghi Thức Lễ Xuất Gia. Sài Gòn: NXB Tổng Hợp, 2010, tr. 20.
  • 14. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Lễ Thành Hôn. Sài Gòn: NXB Tổng Hợp, 2010, tr. 20.
  • 15. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Quy Y Tam Bảo. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 28.
  • 16. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Phóng Sanh. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 10.
  • 17. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức Chúc Tết Nguyên Đán. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 24.
  • 18. Thích Nhật Từ soạn dịch., Nghi Thức An Vị Phật. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 19.
  • 19. Thích Nhật Từ biên soạn., Nghi Thức Hô Chuông. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2011, tr. 22.
  • 20. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh Phật Cho Người Mới Bắt Đầu. Sài Gòn: NXB Hồng Đức, 2013, tr. 124.
  • 21. Thích Nhật Từ soạn dịch., Kinh Phật cho người tại gia. Sài Gòn: NXB Phương Đông, 2013, tr.800.

III. Sách đồng tác giả/ đồng biên tập

  • 1. Cải đạo châu Á (viết chung với các tác giả khác, USA, NXB. Giao Điểm, 2000)
  • 2. Vạch trần âm mưu phá ngầm Phật giáo (với Trần Chung Ngọc, USA, NXB. Giao Điểm, 2000)
  • 3. Bồ-tát Thích Quảng Đức: Ngọn lửa và Trái tim (cùng biên tập, NXB. TP.HCM, 2005)
  • 4. Văn học Phật giáo với 1000 năm Thăng Long (cùng biên tập, NXB Văn hóa – Thông tin, 2010)
  • 5. Pháp nạn Phật giáo năm 1963: Nguyên nhân, bản chất và tiến trình (đồng chủ biên với Nguyễn Kha, NXB Hồng Đức, 2013)
  • 6. Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 (đồng chủ biên với Nguyễn Công Lý, NXB Phương Đông, 2013)

IV. Sách tiếng Anh đã xuất bản

  • 1.Buddhist Soteriological Ethics: A Study of the Buddha’s Central Teachings, Sai Gon: Oriental Press, 2011.
  • 2.Inner Freedom: A spiritual Journey for Jail Innates, Sai Gon: Oriental Press, 2011.
  • 3.Thich Nhat Tu and Vo Van Tuong., Sacred Buddhist Places in India and Nepal (Hanoi, Culture and Information Press, 2008)
  • 4. Le Manh That and Thich Nhat Tu., Family Problems and Buddhist Response (Hanoi, Culture and Information Press, 2008)
  • 5. Le Manh That and Thich Nhat Tu., Care for Environment – Buddhist Response to Climate Change (Hanoi, Culture and Information Press, 2008)
  • 6. Le Manh That and Thich Nhat Tu., War, Conflict and Healing: A Buddhist Perspective (Hanoi, Culture and Information Press, 2008)

V. Sách tiếng Anh sẽ xuất bản

  • Nature of Brāhmanical, Bramanic and Buddhist Ethics
  • Buddha’s Teachings on Society and Natural World
  • Buddhist Ethics as Sila and Duties
  • Buddhist Kammic and Psycholoical Ethics
  • Buddhist Noble Persons

Trích dẫn nổi tiếng

  • ”Quyền uy chẳng khiếp tinh thần. Dục tham chẳng nhớp tâm hồn trắng trong. Khổ nguy vẫn một tấm lòng. Từ bi, đức độ, thong dong tháng ngày.” (Thích Nhật Từ)

Sứ mệnh của quỹ đạo phật ngày nay

Quỹ sử dụng các khoản thu từ lãi suất tiền gửi ngân hàng trong nước cho các mục đích sau đây:

1. Ủng hộ các nạn nhân thiên tai và giúp đỡ bệnh nhân bệnh tật hiểm nghèo; trẻ mồ côi cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chất độc màu da cam và người khuyết tật.
2. Tham gia ủng hộ các chương trình xóa đói, giảm nghèo do các địa phương kêu gọi ủng hộ.
3. Cấp học bổng và tài trợ đào tạo nhân tài Phật giáo. Cấp học bổng và tài trợ sinh viên nghèo vượt khó (bao gồm sinh viên các trường đại học tốt nghiệp loại ưu, các tân thủ khoa đại học).
4. Ấn tống Kinh sách, băng đĩa Phật pháp, sách nói Phật giáo nhằm giúp nhiều người tu học Phật có kết quả hơn.
5. Hỗ trợ xây dựng trường học, xây cầu cho vùng sâu, vùng xa, cao nguyên và xây nhà tình thương cho người nghèo khó.
6. Tham gia các chương trình hỗ trợ y tế, khám chữa bệnh, cấp thuốc cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa.


Sứ mệnh của quỹ đạo phật ngày nay
Quỹ sử dụng các khoản thu từ lãi suất tiền gửi ngân hàng trong nước cho các mục đích sau đây:

1. Ủng hộ các nạn nhân thiên tai và giúp đỡ bệnh nhân bệnh tật hiểm nghèo; trẻ mồ côi cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chất độc màu da cam và người khuyết tật.
2. Tham gia ủng hộ các chương trình xóa đói, giảm nghèo do các địa phương kêu gọi ủng hộ.
3. Cấp học bổng và tài trợ đào tạo nhân tài Phật giáo. Cấp học bổng và tài trợ sinh viên nghèo vượt khó (bao gồm sinh viên các trường đại học tốt nghiệp loại ưu, các tân thủ khoa đại học).
4. Ấn tống Kinh sách, băng đĩa Phật pháp, sách nói Phật giáo nhằm giúp nhiều người tu học Phật có kết quả hơn.
5. Hỗ trợ xây dựng trường học, xây cầu cho vùng sâu, vùng xa, cao nguyên và xây nhà tình thương cho người nghèo khó.
6. Tham gia các chương trình hỗ trợ y tế, khám chữa bệnh, cấp thuốc cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa.


Ban điều hành

Ban Điều Hành Qũy
TT Thích Nhật Từ Chủ Tịch
ĐĐ Thích Ngộ Chơn Phó Chủ Tịch
Nguyễn Tu Mi Phó Chủ Tịch
Nguyễn Thị Ba (Diệu Ngọc) Phó Chủ Tịch
Nguyễn Thị Thắm (Thanh Nhã) Phó Chủ Tịch
Tôn Nữ Quỳnh Giao (Như Ngọc) Giám Đốc
Phạm Thị Hồng Phó Giám Đốc
Nguyễn Thị Vinh (Thanh Vi) Phó Giám Đốc
Vũ Thị Liên (Hạnh Hoa) Phó Giám Đốc
Đoàn Thị Phượng (Tâm Hạnh) Phó Giám Đốc
Nguyễn Thị Yến (Diệu Thanh) Phó Giám Đốc
Nguyễn Đạm Thủy Phó Giám Đốc
Trần Thị Vân Anh Phó Giám Đốc
Ban Kiểm Soát Qũy
Nguyễn Thị Song (Thanh Sa) Trưởng Ban Kiểm Soát
Bùi Thị Thanh Thủy (Huệ Thủy) Phó Ban Kiểm Soát
 
Ban Giám sát nội bộ
Nguyễn Thị Thắm (Thanh Nhã) Thủ Quỹ
Nguyễn Thị Thu Nga (Diệu Thiện) Kế Toán

Những thắc mắc thường gặp

Điều lệ

Điều lệ hoạt động Quỹ Đạo Phật Ngày Nay

Điều lệ
Điều lệ hoạt động Quỹ Đạo Phật Ngày Nay

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Tên gọi - Tôn chỉ mục đích của Quỹ

1. Tên của Quỹ: Quỹ từ thiện Đạo Phật Ngày Nay. Tên tiếng Anh: Buddhism Today Foundation, viết tắt là BTF.

2. Trụ sở: 92 Nguyễn Chí Thanh, P3, Quận 10, TP Hồ Chí Minh.

3. Mục đích: Quỹ được thành lập nhằm mục đích vận động các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân có tâm huyết, hỗ trợ cho các hoạt động nhân đạo từ thiện và hoạt động vì cộng đồng theo tinh thần Phật giáo như: Hỗ trợ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai; bệnh nhân hiểm nghèo; các trường hợp nghèo khó; tài trợ học bổng, đào tạo nhân tài góp phần phát triển xã hội, v.v..

 

Điều 2. Nguyên tắc hoạt động

1. Quỹ là một tổ chức xã hội tự nguyện, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tự tạo vốn trên cơ sở vận động tài trợ và đóng góp hoàn toàn tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và đóng góp của các sáng lập viên để hoạt động theo mục tiêu của Quỹ.

2. Quỹ tự trang trải chi phí cho các hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, không có nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

3. Quỹ tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình.

4. Quỹ công khai tình hình huy động, quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG II

NHIỆM VỤ CỦA QUỸ

Điều 3. Quỹ có nhiệm vụ:

1. Tổ chức vận động và tiếp nhận các nguồn tài trợ hợp pháp về tài chính, vật chất của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để tiến hành tài trợ cho các đối tượng nêu ở khoản 2 điều 3 Điều lệ này.

2. Thực hiện các chương trình được nêu ở điều 13 của Điều lệ này.

3. Tổ chức hoạt động gây Quỹ theo đúng quy định pháp luật, công khai mọi khoản thu, chi theo quy định của Pháp luật về công khai tài chính.

4. Toàn bộ tiền và tài sản huy động vào Quỹ phải sử dụng đúng mục đích, đối tượng:

a) Đối với khoản tài trợ, quyên góp, ủng hộ khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai, cứu trợ khẩn cấp phải thực hiện đầy đủ 100% ngay sau khi nhận được tiền và tài sản;

b) Đối với các khoản tài trợ có mục đích, mục tiêu phải thực hiện đúng theo yêu cầu của nhà tài trợ;

5. Lưu trữ và công khai hồ sơ, các chứng từ, tài liệu về tài sản, tài chính của Quỹ; nghị quyết, biên bản về các hoạt động của Quỹ theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG III

TỔ CHỨC, HỘI VIÊN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ

Điều 4. Cơ cấu tổ chức gồm

- Hội đồng quản lý Quỹ

- Ban kiểm soát

- Chủ tịch Quỹ

- Giám đốc Quỹ 

 

Điều 5. Hội đồng quản lý Quỹ

1. Hội đồng quản lý Quỹ có tối thiểu 3 (ba) thành viên với nhiệm kỳ 3 (ba) năm do các sáng lập viên chỉ định. Hội đồng quản lý Quỹ gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên. Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ do các thành viên Hội đồng quản lý Quỹ bầu với số phiếu quá nửa số thành viên đồng ý.

2. Hội đồng quản lý Quỹ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất và sẽ quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến Quỹ, có các quyền và nghĩa vụ sau :

a) Thông qua phương hướng hoạt động của Quỹ;

b) Ban hành các quy định về quản lý, sử dụng nguồn thu của Quỹ;

c) Phê duyệt định mức chi tiêu cho công tác quản lý Quỹ, kế hoạch tài chính, báo cáo quyết toán của Quỹ;

d) Quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm Giám đốc, Kế toán trưởng của Quỹ;

đ) Quyết định cơ cấu tổ chức Quỹ;

e) Quyết định những vấn đề khác theo Điều lệ Quỹ.

3. Hội đồng quản lý Quỹ họp định kỳ 06 tháng / lần. Nếu có vấn đề phát sinh, bất cứ thành viên nào trong Hội đồng Quản lý Quỹ cũng có thể đề xuất Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ triệu tập họp Hội đồng bằng cách gửi thư thông báo trước ít nhất một tuần cho các thành viên còn lại. Cuộc họp được xác định là hợp lệ khi có hơn ½ số thành viên tham gia. Quyết định của Hội đồng Quản lý Quỹ được thông qua khi có ít nhất 2/3 số thành viên tán thành. Trong trường hợp số thành viên có mặt tại cuộc họp không đầy đủ, người chủ trì cuộc họp Hội đồng Quản lý Quỹ sẽ xin ý kiến bằng văn bản hoặc qua email về vấn đề được xin ý kiến thì ý kiến này cũng có giá trị như sự có mặt của thành viên đó tại cuộc họp.

4. Các thành viên Hội đồng quản lý Quỹ hoạt động không hưởng lương và không được hưởng bất cứ các chi phí nào từ ngân sách của Quỹ, kể cả công tác phí.

5. Mỗi thành viên Hội đồng quản lý Quỹ sẽ từ nhiệm hoặc bị bãi nhiệm nếu không có điều kiện tham gia, hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng cho uy tín và hoạt động của Quỹ.

 

Điều 6. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ

1. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ là công dân Việt Nam và do các thành viên Hội đồng quản lý Quỹ bầu với số phiếu quá nửa số thành viên. Nhiệm kỳ Chủ tịch Quỹ cùng nhiệm kỳ Hội đồng quản lý Quỹ.

2. Trong trường hợp người nước ngoài có nhiều đóng góp cho hoạt động Quỹ, được các thành viên Hội đồng Quản lý Quỹ nhất trí với số phiếu quá bán, được tôn vinh làm Chủ tịch danh dự của Quỹ.

3. Chủ tịch có trách nhiệm triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng Quản lý Quỹ, điều hành việc triển khai Nghị quyết các cuộc họp của Hội đồng.

4. Các Phó Chủ tịch có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng Quản lý Quỹ khi Chủ tịch vắng mặt và ủy quyền.

 

Điều 7. Giám đốc Quỹ và các bộ phận chức năng

1. Giám đốc Quỹ là công dân Việt Nam và do Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bổ nhiệm theo quyết định của Hội đồng quản lý Quỹ; nhiệm kỳ Giám đốc Quỹ không quá 3 (ba) năm.

2. Giám đốc Quỹ là người đại diện trước pháp luật và chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Quỹ, thực hiện chức năng quản lý của mình theo các chính sách do Hội đồng Quản lý Quỹ quy định.

3. Nhiệm vụ của Giám đốc Quỹ.

a) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản lý Quỹ về toàn bộ hoạt động của Quỹ ;

b) Điều hành công việc của Quỹ ;

c) Ký các văn bản pháp lý trong phạm vi trách nhiệm của mình và chịu trách nhiệm cho các Quyết định của mình ;

d) Báo cáo định kỳ cho Hội đồng Quản lý Quỹ về tình hình hoạt động của Quỹ ;

đ) Chịu trách nhiệm quản lý tài sản của Quỹ theo Điều lệ Quỹ và các quy định của pháp luật về quản lý tài chính, tài sản.

e) Đề nghị Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bổ nhiệm Phó Giám đốc và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc.

4. Giúp việc cho Giám đốc có các phó Giám đốc, Kế toán trưởng. Việc bổ nhiệm các chức danh trên sẽ do Hội đồng Quản lý Quỹ bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Quỹ.

 

Điều 8. Ban Kiểm soát Quỹ

1. Ban kiểm soát có ít nhất hai (02) thành viên gồm Trưởng ban và Phó Trưởng ban, cùng với nhiệm kỳ của Hội đồng Quản lý Quỹ.

2. Kiểm tra và giám sát hoạt động của Quỹ theo Điều lệ;

3. Ban kiểm soát hoạt động độc lập và có các nhiệm vụ sau:

a) Kiểm tra và giám sát hoạt động của Quỹ theo Điều lệ;

b) Báo cáo và đề xuất Hội đồng Quản lý Quỹ về kết quả kiếm soát các hoạt động và tình hình tài chính của Quỹ.

 

Điều 9. Nhân sự khác

Tùy theo quy mô phát triển của Quỹ, Giám đốc Quỹ sẽ đề nghị Hội đồng Quản lý Quỹ bổ nhiệm các nhân sự vào cơ quan điều hành Quỹ theo nguyên tắc gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, tiết kiệm chi phí.

 

CHƯƠNG IV

TÀI CHÍNH CỦA QUỸ

Điều 10. Nguồn thu của Quỹ

Nguồn vốn của Quỹ được thu theo đúng quy định của Pháp luật. Quỹ không nhận những khoản tiền không rõ nguồn gốc. Nguồn thu của Quỹ gồm có:

1. Đóng góp ban đầu của các sáng lập viên của Quỹ

2. Đóng góp tự nguyện, tài trợ hợp pháp của cá nhân, tổ chức ở trong nước và nước ngoài.

3. Thu từ lãi suất tiền gửi của Quỹ vào ngân hàng, hoặt từ các hoạt động gây Quỹ theo quy định hiện hành.

4. Các khoản thu hợp pháp từ các hoạt động hợp pháp khác.

 

Điều 11. Các khoản chi của Quỹ

Quỹ chỉ được sử dụng sau khi thành lập được sáu tháng. Hội đồng quản lý không sử dụng đến tiền Quỹ gốc được các hội viên sáng lập từ nguyện đóng góp. Chủ yếu Quỹ sử dụng lãi suất từ việc gửi ngân hàng trong nước cho các mục đích sau đây:

1. Ủng hộ các nạn nhân thiên tai và giúp đỡ bệnh nhân bệnh tật hiểm nghèo; trẻ mồ côi cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chất độc màu da cam và người khuyết tật.

2. Tham gia ủng hộ các chương trình xóa đói, giảm nghèo do các địa phương kêu gọi ủng hộ.

3. Cấp học bổng và tài trợ đào tạo nhân tài Phật giáo. Cấp học bổng và tài trợ sinh viên nghèo vượt khó (bao gồm sinh viên các trường đại học tốt nghiệp loại ưu, các tân thủ khoa đại học).

4. Ấn tống Kinh sách, băng đĩa Phật pháp, sách nói Phật giáo nhằm giúp nhiều người tu học Phật có kết quả hơn.

5. Hỗ trợ xây dựng trường học, xây chùa, xây cầu cho vùng sâu, vùng xa, cao nguyên và xây nhà tình thương cho người nghèo khó.

6. Tham gia các chương trình hỗ trợ y tế, khám chữa bệnh, cấp thuốc cho người nghèo ở vùng sau, vùng xa.

 

Điều 12. Công tác kế toán, kiểm toán, thống kê

1. Quỹ phải tổ chức và thực hiện công tác kế toán, kiểm toán, thống kê; chấp hành các chế độ, quy định về hóa đơn, chứng từ kế toán;

2. Mở sổ ghi đầy đủ danh sách các tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ và danh sách những đối tượng được tài trợ;

3. Lập và gửi đầy đủ, đúng thời hạn các báo cáo tài chính và quyết toán thu, chi hàng năm;

4. Ban kiểm soát Quỹ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của Quỹ và báo cáo hội đồng quản lý Quỹ tình hình tài chính của Quỹ;

5. Hội đồng quản lý Quỹ có trách nhiệm quản lý các hoạt động của Quỹ, chuẩn y các kế hoạch tài chính và thẩm tra, phê duyệt báo cáo quyết toán của Quỹ;

6. Thường trực Hội đồng Quản lý Quỹ và Giám đốc Quỹ có trách nhiệm công bố công khai các nội dung :

- Danh sách và mức đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân đã đóng góp, tài trợ cho Quỹ.

- Báo cáo tài chính hàng quý và Quyết toán năm của Quỹ theo từng nội dung thu-chi.

7. Hàng năm, Quỹ thuê kiểm toán độc lập để kiểm toán tình hình thu – chi tài chính của Quỹ (nếu cần).

 

Điều 13. Nguyên tắc vận động quyên góp, vận động tài trợ

1. Quỹ được vận động quyên góp, vận động tài trợ trong nước và ở nước ngoài nhằm thực hiện mục tiêu hoạt động theo quy định của Điều lệ Quỹ.

2. Đối với các cuộc vận động quyên góp, vận động tài trợ giải quyết hậu quả thiên tai, bão lụt, cứu trợ khẩn cấp do Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ quyết định.

 

CHƯƠNG V

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC

Điều 14. Bổ sung, sửa đổi Điều lệ Quỹ

Trong quá trình hoạt động Quỹ, Giám đốc Quỹ có trách nhiệm theo dõi và đề xuất Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ cho phù hợp tình hình hoạt động của Quỹ nhưng phải được 2/3 thành viên Hội đồng Quản lý Quỹ tán thành trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, Quyết định mới có giá trị thi hành.